Loại: Cửa xếp hai cánh kiểu Rall
Khai trương: 1913
Chiều dài: 1613 feet
Chiều rộng: 70 feet
Số làn đường: 4
Lưu lượng giao thông: 30.000 xe/ngày
(Nguồn ảnh: Steve Morgan, CC-BY-SA .)
Cầu Broadway được xây dựng vào năm 1911-1912, với một đoạn đường dẫn mới được thêm vào năm 1927 và đoạn đường dẫn cũ được Thành phố Portland thay thế vào năm 1999-2002. Cầu có bốn làn xe ô tô và một tuyến xe điện, đồng thời cũng là một địa điểm vượt sông phổ biến cho người đi xe đạp. Ban đầu cầu được sơn màu đen, nhưng đã được sơn lại màu "Đỏ Cổng Vàng" vào năm 1963.
Khoảng không gian thông thủy khi nhịp cầu nâng đóng đủ cho phần lớn giao thông đường sông, chỉ cần mở khoảng 25 lần mỗi tháng, chủ yếu để phục vụ các tàu chở ngũ cốc.
Toàn bộ cấu trúc có tổng chiều dài 1.613 feet và bao gồm một nhịp chính kênh nâng Rall hai cánh dài 278 feet, ba nhịp giàn Pennsylvania-Petit dài 270 feet, 286 feet và 297 feet ở phía tây, và một nhịp giàn Pennsylvania-Petit dài 297 feet và một nhịp giàn Warren dài 185 feet ở phía đông.
Đường dẫn lên cầu vượt NW Broadway ở phía tây là sự kết hợp của các công trình được xây dựng vào năm 1911 và 1927. Đoạn đầu tiên dài 456 feet là mặt đường bê tông cốt thép với tường chắn, ban đầu rộng 67 feet nhưng sau đó được mở rộng lên 85 feet vào năm 1927. Đoạn tiếp theo dài 331 feet gồm sáu nhịp được tạo thành từ mặt cầu bê tông cốt thép được đỡ bởi các dầm thép, xà ngang, thanh giằng và cột. Đoạn này được nối với một cầu vượt bằng thép, dài 282 feet, có bốn nhịp dầm thép có chiều dài thay đổi và kết nối đường dẫn lên cầu với cấu trúc cầu chính.
Đường dẫn lên cầu vượt NW Lovejoy Street ban đầu được xây dựng vào năm 1927. Đường dẫn này đã bị Thành phố Portland phá bỏ vào năm 1999 và được mở lại với chiều dài ngắn hơn vào năm 2002 để phục vụ cho việc phát triển khu dân cư River District mới.
Phần cầu phía đông là cầu dầm bê tông cốt thép liên tục hai nhịp dài 84 feet bắc qua đường N Interstate Avenue. Các bức tường mố cầu ở hai đầu cao khoảng 20 feet.
Những người đi lại bằng phương tiện công cộng khi kẹt xe có thể nhận thấy rằng việc mở cầu Broadway mất nhiều thời gian hơn so với các loại cầu di động khác. Thời gian mở cầu trung bình của các cầu Morrison, Burnside và Hawthorne là từ năm đến tám phút. Trên cầu Broadway, việc mở cầu có thể mất 20 phút hoặc lâu hơn.
Một trong những lý do gây ra sự chậm trễ là cầu Broadway là một cây cầu nâng rất phức tạp. Được gọi là cầu nâng hai cánh (có nghĩa là "bập bênh" trong tiếng Pháp), trọng lượng của mặt cầu, hay cánh cầu, được cân bằng bởi một đối trọng. Hai cây cầu nâng khác của Portland, Morrison và Burnside, có các đối trọng được giấu kín bên trong trụ cầu. Tuy nhiên, hai đối trọng của cầu Broadway lại nằm phía trên mặt cầu.
Cầu nâng Broadway là một loại cầu nâng kiểu Rall độc đáo, được phát minh bởi Theodore Rall. Trên cây cầu này, mỗi cánh cầu và đối trọng của nó lăn qua lại trên các bánh xe lớn để đạt được khoảng cách tối đa so với mặt sông. Hiện chỉ còn ba cây cầu đường cao tốc kiểu nâng Rall tồn tại ở Mỹ, hai cây cầu còn lại nhỏ hơn nhiều so với Broadway. Nhịp nâng của cầu có chiều dài bất thường. Mỗi cánh cầu dài khoảng 43 mét, nặng hơn 2.000 tấn, khiến Broadway trở thành cây cầu nâng dài thứ bảy trên thế giới.
Toàn bộ cầu Broadway được thiết kế bởi Ralph Modjeski đến từ Chicago, IL. Nhịp cầu nâng được thiết kế bởi Công ty Kỹ thuật Strobel của Chicago, đơn vị nắm giữ bằng sáng chế Rall. Công ty Union Bridge and Construction Co. của Kansas City, MO đã xây dựng phần móng và Công ty Pennsylvania Steel Co. của Steelton, PA đã chế tạo và lắp đặt các nhịp thép và nhịp cầu nâng. Năm 1927, một kỹ sư cầu nổi tiếng khác, Gustav Lindenthal của New York, đã thiết kế một phần đường dẫn lên phố Lovejoy cũng như các sửa đổi đối với các nhịp giàn.